Cơ hội hợp tác về giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Ngày 15/4/2010, Access American Education (AAE) đã tổ chức chương trình giao lưu giữa ông Chris Runckel - Chủ tịch Runckel and Associates và đại diện các trường ĐH-CĐ, doanh nghiệp nhằm tìm hiểu và xúc tiến các mối quan hệ về giáo dục giữa Việt Nam các nước châu Á và Hoa Kỳ.
Tham gia chương trình giao lưu có đại diện của các trường: ĐH Hoa Sen, ĐH Công nghệ Sài Gòn, Nguyễn Hoàng Group, MYA Business Corporation, ĐH Ngoại ngữ - Tin học (Huflit), CĐ Công nghệ thông tin, ĐH Sân khấu điện ảnh TP.HCM, CĐ Kinh tế - Công nghệ TP.HCM …

Tại buổi giao lưu, ông Chris Runckel đã trình bày các chủ đề chính như:
- Sự khác biệt giữa hệ thống giáo dục Việt Nam và các nước châu Á
- Chiến lược đào tạo và hợp tác tuyển sinh quốc tế của các đại học Hoa Kỳ
- kinh nghiệm xúc tiến hợp tác quốc tế giữa các đại học Việt Nam và các tổ chức giáo dục quốc tế.
Ông Chris nhấn mạnh: Trong đợt “khủng hoảng” kinh tế thế giới vừa qua, Hoa Kỳ là quốc gia bị tác động khá lớn, nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu của các ĐH Hoa Kỳ lâu nay vốn được hỗ trợ từ Chính phủ, các tổ chức, đóng góp của cựu sinh viên đã bị hạn chế phần nào; do đó, để tăng nguồn thu phục vụ hoạt động đào tạo, các ĐH Hoa Kỳ bắt đầu quan tâm đến nguồn thu bổ sung từ học phí. Với sinh viên quốc tế, học phí luôn cao hơn nhiều so với sinh viên bản địa, do đó chính sách tuyển du học sinh quốc tế đã được các trường chú trọng rất nhiều so với những năm trước đây.

Ông Chris Runckel cũng cho biết thêm, hiện nay du học sinh quốc tế đến Hoa Kỳ ngày một tăng, đặc biệt là Việt Nam. Việc tăng này đã đưa Việt Nam là 1 trong 20 nước gửi nhiều sinh viên quốc tế nhất đến Mỹ, bắt đầu năm 2006/07 ở vị trí 20, vươn lên thứ 13 năm 2008/09, và thứ 9 năm 2007/08 và lên hàng thứ 9 năm 2008/09, trên Ả Rập Saudi và dưới Thổ Nhĩ Kỳ. Ví dụ riêng ở trường Porland State University, sinh viên quốc tế đến nhiều nhất là các nước Ả Rập, tiếp đến là Trung Quốc, sau đó là Hàn Quốc rồi mới đến Việt Nam. Thời gian tới, du học sinh Việt Nam sẽ được các ĐH Hoa Kỳ quan tâm nhiều hơn bởi nhu cầu du học nước ngoài của người dân Việt Nam đang tăng mạnh, hơn nữa các ĐH Hoa Kỳ cũng khá quan tâm đến năng lực học tập và tinh thần cầu tiến của sinh viên Việt Nam. Những điều này sẽ mở ra cơ hội hợp tác và đầu tư về giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, trong đó các chương trình hợp tác đào tạo ngắn hạn về các kỹ năng chuyên sâu, các chương trình giao lưu tìm hiểu nền giáo dục và văn hóa sẽ là tiền đề cho những quan hệ hợp tác về đào tạo chính quy sau này.

Về vấn đề hợp tác giữa các ĐH ở Việt Nam và các trường ở nước ngoài, cách hiểu quả để mang lại lợi ích cho cả hai bên là các chương trình trao đổi 2:2 hoặc 3:1 (nghĩa là 2 năm học tại Việt Nam và 2 năm tại nước ngoài, hay 3 năm tại Việt Nam, 1 năm ở nước ngoài). Việc hợp tác này giúp tiết kiệm chi phí cho sinh viên, và các trường ở Việt Nam và nước ngoài vẫn đảm bảo thu hút lượng sinh viên. Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hợp tác này là hệ thống giáo dục Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung có nhiều khác biệt so với hệ thống của Mỹ, Anh, châu Âu. Đặc trưng nhất là cách dạy “thầy đọc, trò chép” của các nước châu Á so với cách trao đồi, đặt câu hỏi giữa thầy và trò của Mỹ, châu Âu, tiếp đến là thang điểm chấm theo dạng A, B, C, D… hay thang điểm 4 của Mỹ, Anh, châu Âu so với thang điểm 10 của Việt Nam và một số nước châu Á.

Một số câu hỏi được các đại diện các trường đưa ra là “vấn đề visa đi du học Mỹ có khó không, nó có bị ảnh hưởng bởi trình độ muốn đi học?”. Trả lời cho câu hỏi này, ông Chris cho hay visa không khó, vấn đề là sinh viên phải tự tin trình bày rõ kế hoạch học tập của mình, tránh những thông tin sai lệch mà một số đơn vị tư vấn du học không đáng tin cậy đưa ra. Sinh viên muốn du học hệ 4 năm – undergraduate hay sau đại học đều có cơ hội như nhau, miễn sao đảm bảo có đủ tài chính; riêng với trình độ sau đại học, sinh viên có nhiều cơ hội tiếp cận học bổng từ các dự án nghiên cứu hơn. Một câu hỏi khác liên quan đến sự hợp tác giữa ĐH Việt Nam và nước ngoài là “hiện nay, có rất nhiều trường nước ngoài muốn đặt mối quan hệ hợp tác, nhưng họ chỉ muốn ký MOU (văn bản ghi nhớ) và thực chất làm các dự án của họ, vậy thì có lời khuyên gì cho vấn đề này?”. Ông Chris cho hay, các trường ĐH Việt Nam cũng phải thay đổi cách nghĩ “Giáo dục cũng là 1 ngành kinh doanh” và luôn thận trọng tỉnh táo khi ký kết hợp tác. Phải đòi hỏi quyền lợi đạt được sau khi hợp tác để thật sự mang lại lợi ích cho cả hai bên.

Buổi giao lưu đã kết thúc trong không khí thân tình, cởi mở và mang lại nhiều thông tin bổ ích (ảnh: Bà Nguyễn Thị Nhụ - Giám đốc AAE tại Việt Nam tặng quà lưu niệm cho ông Chris Runckel)
Ngọc Hương
xem bài nói chuyện của ông Chris tại kênh KBNC
Tài liệu liên quan đến buổi hội thảo:
